Tính chất dược lý và Hình thức hoạt động của Pregabalin

0
18

Thuốc Synapain là thuốc có thành phần chính là Pregabalin. Thuốc này hoạt động bằng cách giảm chất dẫn truyền hóa học nhất định trong não và làm chậm các xung thần kinh.

Hình thức hoạt động của Pregabalin

Cơ chế hoạt động của Pregabalin, mặc dù vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ, các nghiên cứu liên quan đến các thuốc liên quan đến cấu trúc cho thấy rằng sự gắn kết trước synap với các kênh canxi phân áp điện thế là chìa khóa cho tác dụng chống co giật và chống ung thư được quan sát thấy trên mô hình động vật.

Bằng cách liên kết trước tiểu đơn vị alpha2-delta của các kênh canxi được đánh giá bằng điện thế trong hệ thần kinh trung ương, pregabalin điều chỉnh việc giải phóng một số chất dẫn truyền thần kinh kích thích bao gồm glutamate, chất-P, norepinephrine và peptide liên quan đến gen calcitonin. 6 Ngoài ra, pregabalin ngăn không cho tiểu đơn vị alpha2-delta bị buôn bán từ hạch gốc lưng đến sừng lưng cột sống, điều này cũng có thể góp phần vào cơ chế hoạt động.

Mặc dù pregabalin là một dẫn xuất cấu trúc của axit gamma-aminobutyric ức chế dẫn truyền thần kinh (GABA), nó không liên kết trực tiếp với các thụ thể GABA hoặc benzodiazepine. 

Tính chất dược lý của Pregabalin

Dược lực học

Pregabalin là một thuốc chống co giật và giảm đau. Pregabalin có cấu trúc tương tự chất ức chế thần kinh trung ương GABA, song không gắn trực tiếp với các thụ thể GABAa, GABAb, hay thụ thể của benzodiazepin, không làm tăng đáp ứng của GABAa trên các tế bào thần kinh nuôi cấy, cũng không làm thay đổi nồng độ GABA trên não chuột, không ảnh hưởng đến thu hồi cũng như thoái giáng GABA. Trên các tế bào thần kinh nuôi cấy, sử dụng lâu dài pregabalin sẽ làm tăng mật độ các protein vận chuyển và tăng tốc độ vận chuyển GABA. Pregabalin gắn với các mô thần kinh trung ương với ái lực cao tại vị trí a2-S (một tiểu đơn vị của kênh calci phụ thuộc điện thế). Mặc dù cơ chế chính xác của pregabalin chưa được biết đầy đủ, song việc gắn với tiểu đơn vị a2-S có thể liên quan đến tác dụng giảm đau và chống co giật của pregabalin. In vitro, pregabalin làm giảm sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh phụ thuộc calci như glutamat, norepinephrin, peptid liên quan đến gen điều hòa calcitonin, và chất P, có thể thông qua điều hòa chức năng của kênh calci.

Đau thần kinh

Hiệu quả của thuốc đã được chỉ ra từ các nghiên cứu trong bệnh thần kinh do tiểu đường và chứng đau thần kinh sau zona. Hiệu quả của thuốc chưa được nghiên cứu trong các mô hình đau thần kinh khác.

Pregabalin đã được nghiên cứu trong 9 nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trong tối đa 13 tuần với liều dùng 2 lần/ngày và tối đa 8 tuần với liều dùng 3 lần/ngày. Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của chế độ liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau.

Trong các thử nghiệm lâm sàng trong tối đa 13 tuần, đã quan sát thấy có giảm đau trong tuần thứ nhất và được duy trì trong suốt thời gian điều trị.

Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, 35% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân được điều trị với giả dược đã đạt được mức cải thiện 50% ở điểm đau. Đối với bệnh nhân không bị buồn ngủ, mức cải thiện về điểm đau đó cũng đã được quan sát ở 33% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược. Với bệnh nhân từng có buồn ngủ tỷ lệ đáp ứng là 48% đối với pregabalin và 16% đối với giả dược.

Đau cơ xơ hóa

Đơn trị liệu bằng pregabalin được nghiên cứu trong 5 nghiên cứu đối chứng bằng giả dược, trong do có 3 nghiên cứu trong 12 tuần với liều cố định, một nghiên cứu trong 7 tuần với liều cố định và một nghiên cứu trong 6 tháng để đánh giá hiệu quả lâu dài. Điều trị bằng pregabalin trong tất cả các nghiên cứu với liều cố định đã đạt được mức giảm đau đáng kể trong bệnh đau cơ xơ hóa ở liều từ 300 đến 600mg (2 lần/ngày).

Trong 3 nghiên cứu với liều cố định trong 12 tuần, 40% bệnh nhân dùng pregabalin đạt mức cải thiện điểm đau từ 30% trở lên so với 28% bệnh nhân dùng giả dược, 23% bệnh nhân điều trị đạt mức cải thiện điểm đau từ 50% trở lên so với 15% bệnh nhân dùng giả dược.

Pregabalin đạt điểm đánh giá tổng thể cao hơn hẳn so với giả dược trong thang điểm PCIC (Patient Global Impression of Change – cảm giác thay đổi tổng thể của bệnh nhân) trong 3 nghiên cứu liều cố định trong 12 tuần (41% bệnh nhân dùng pregabalin cảm thấy đỡ hơn rất nhiều hoặc đỡ hơn nhiều so với 29% bệnh nhân dùng giả dược). Trong thang điểm FIQ (bảng câu hỏi về tác dụng trên đau cơ xơ hóa), so với giả dược, pregabalin đạt mức cải thiện có ý nghĩa thống kê về mặt chức năng trong 2 trên 3 nghiên cứu với liều cố định được đánh giá.

Điều trị bằng pregabalin cải thiện đáng kể chất lượng giấc ngủ theo đánh giá của bệnh nhân trong 4 nghiên cứu dùng liều cố định được tính theo Thang đánh giá giấc ngủ trong Nghiên cứu kết quả y học (MOS-SS). Thang đánh giá phụ về rối loạn giấc ngủ, chỉ số vấn đề về giấc ngủ nói chung MOS-SS và nhật ký chất lượng giấc ngủ hằng ngày.

Trong nghiên cứu 6 tháng, mức cải thiện đau, điểm đánh giá tổng thể (PGIC), chức năng (tổng điểm FIQ) và giấc ngủ (MOS-SS Thang đánh giá phụ về rối loạn giấc ngủ) được duy trì ở bệnh nhân dùng pregabalin với thời gian kéo dài hơn giả dược rõ rệt. Dùng pregabalin với liều 600mg/ngày cho mức cải thiện cao hơn về chất lượng giấc ngủ theo đánh giá của bệnh nhân so với liều 300mg và 450mg/ngày; tác dụng giảm đau bình quân, điểm đánh giá tổng thể, và chỉ số FIQ là tương tự giữa liều 450mg và 600mg/ngày, mặc dù liều 600mg/ngày được dung nạp kém hơn.

Động kinh

Pregabalin được nghiên cứu trong 3 nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trong thời gian điều trị 12 tuần với liều dùng 2 lần/ngày hoặc 3 lần/ngày. Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của các chế độ liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau.

Đã quan sát thấy có giảm tần số các cơn động kinh ở tuần thứ nhất.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Pregabalin đã được nghiên cứu trong 6 nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trong thời gian 4 – 6 tuần điều trị, một nghiên cứu trên bệnh nhân lớn tuổi trong thời gian 8 tuần và một nghiên cứu ngăn ngừa tái phát dài hạn cùng với một giai đoạn ngăn ngừa tái phát mù đôi trong thời gian 6 tháng điều trị.

Đã quan sát thấy có giảm các triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa theo thang đánh giá độ lo âu Hamilton (HAM-A) trong tuần thứ nhất.

Trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng (thời gian 4 – 8 tuần điều trị), 52% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 38% bệnh nhân điều trị băng giả dược đã đạt mức cải thiện ít nhất là 50% tổng số điểm theo thang đánh giá độ lo âu HAM-A từ trước khi điều trị cho tới khi kết thúc điều trị.

Synapain (Pregabalin) - NhathuocLP
Synapain (Pregabalin) – NhathuocLP

Dược động học

Dược động học ở trạng thái ổn định của Pregabalin tương tự ở những người tình nguyện khỏe mạnh, bệnh nhân bị động kinh đang dùng thuốc chống động kinh và bệnh nhân bị đau mãn tính.

Sự hấp thụ: Pregabalin được hấp thu nhanh chóng khi dùng ở trạng thái nhịn ăn, với nồng độ đỉnh trong huyết tương xảy ra trong vòng 1 giờ sau khi dùng cả liều đơn và đa liều. Sinh khả dụng đường uống của Pregabalin được ước tính là ≥ 90% và không phụ thuộc vào liều lượng. Sau khi sử dụng lặp lại, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24 đến 48 giờ. Tỷ lệ hấp thu pregabalin giảm khi dùng chung với thức ăn dẫn đến giảm C max khoảng 25-30% và làm chậm t max khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, dùng pregabalin cùng với thức ăn không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đến mức độ hấp thu pregabalin.

Phân phối: Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, Pregabalin đã được chứng minh là có thể vượt qua hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột cống và khỉ. Pregabalin đã được chứng minh là đi qua nhau thai ở chuột và có trong sữa của chuột đang cho con bú. Ở người, thể tích phân bố rõ ràng của pregabalin sau khi uống là khoảng 0,56 l / kg. Pregabalin không liên kết với protein huyết tương.

Chuyển đổi sinh học: Pregabalin trải qua quá trình chuyển hóa không đáng kể ở người. Sau khi dùng một liều pregabalin được đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% hoạt độ phóng xạ được thu hồi trong nước tiểu là pregabalin không thay đổi. Dẫn xuất N-methyl hóa của pregabalin, chất chuyển hóa chính của pregabalin được tìm thấy trong nước tiểu, chiếm 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu nào về sự phân hóa đồng phân đối tượng S của pregabalin thành đồng phân đối tượng R.

Loại bỏ: Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu bằng cách bài tiết qua thận dưới dạng không đổi. Thời gian bán thải trung bình của Pregabalin là 6,3 giờ. Độ thanh thải của Pregabalin trong huyết tương và độ thanh thải ở thận tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân giảm chức năng thận hoặc đang chạy thận nhân.

Xem thêm:

Nguồn uy tín: https://nhathuoclp.com/thuoc-synapain-75mg-pregabalin/

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here