Tính chất dược lý và Hình thức hoạt động của Nasrix

0
53

Thuốc Nasrix là thuốc phối hợp hai chất simvastatin và ezetimibe, có tác dụng làm giảm cholesterol huyết tương bằng cả hai cách ức chế sự hấp thu và sự tổng hợp.

Hình thức hoạt động của Nasrix (Simvastatin & Ezetimibe)

Cơ chế hoạt động của Nasrix, Cholesterol huyết tương có nguồn gốc từ quá trình hấp thu và tổng hợp nội sinh ở ruột. Nasrix chứa ezetimibe và simvastatin, hai hợp chất làm giảm lipid với cơ chế hoạt động bổ sung. Nasrix làm giảm tổng C, LDL-C, Apo B, TG và không HDL-C tăng cao, đồng thời làm tăng HDL-C thông qua việc ức chế kép sự hấp thu và tổng hợp cholesterol.

Tính chất dược lý của Nasrix (Simvastatin & Ezetimibe)

Dược lực học

Nasrix (ezetimibe / simvastatin) là một sản phẩm hạ lipid, ức chế có chọn lọc sự hấp thu cholesterol ở ruột và các sterol thực vật có liên quan và ức chế sự tổng hợp nội sinh của cholesterol.

Simvastatin

Nhóm dược lý: Chống tăng lipid huyết (nhóm chất ức chế HMG-CoA reductase, nhóm statin). Mã ATC: c 10AA07.

Sau khi uống, simvastatin – một lacton không có hoạt tính – bị thủy phân trong gan tạo thành dạng p-hydroxyacid, có hoạt tính ức chế mạnh HMG-CoA reductase (3-hydroxy-3-methylglutaryl-coenzym A reductase). Enzym này xúc tác quá trình chuyển đổi HMG-CoA thành acid mevalonic, là giai đoạn sớm và bước giới hạn tốc độ trong con đường sinh tổng hợp cholesterol.

Simvastatin cho thấy tác dụng giảm LDL-C ở cả bệnh nhân có nồng độ LDL-C bình thường và tăng. LDL được tạo thành từ VLDL và bị dị hóa chủ yếu bởi thụ thể LDL có ái lực cao. Cơ chế giảm nồng độ LDL-C của simvastatin có thể liên quan đến cả sự giảm nồng độ VLDL-C và cảm ứng thụ thể LDL, dẫn đến giảm tổng hợp và tăng dị hóa LDL-C. Apolipoprotein B cũng giảm đáng kể khi điều trị bằng simvastatin. Ngoài ra, simvastatin cũng làm tăng vừa phải HDL-C và giảm triglycerid toàn phần trong huyết tương. Kết quả làm giảm tỷ lệ cholesterol toàn phần/HDL-C và LDL-C/HDL-C.

Ezetimibe

Nhóm dược lý: Nhóm thuốc điều hòa lipid khác. Mã ATC: c 10AX09.

Ezetimibe thuộc nhóm thuốc hạ lipid mới, thuốc ức chế sự hấp thu cholesterol và sterol thực vật ở ruột non. Ezetimibe có hoạt tính khi dùng đường uống và có cơ chế khác các nhóm thuốc hạ lipid huyết khác (như statin, thuốc gắn acid mật (resin), dẫn xuất acid fibric, và các stanol thực vật). Phân tử mục tiêu của ezetimibe là chất vận chuyển sterol, Niemann-Pick Cl-Like 1 (NPC1L1), có vai trò trong sự hấp thu cholesterol và phytosterol ở ruột non.

Ezetimibe khu trú tại bờ bàn chải ruột non và ức chế sự hấp thu cholesterol, lảm giảm sự vận chuyển cholesterol ở ruột non tới gan, trong khi các statin làm giảm sinh tổng hợp cholesterol ở gan, và khi dùng phối hợp, hai cơ chế khác biệt trên cho tác dụng bổ trợ trong tác động hạ lipid huyết.

Nasrix (Ezetimibe & Simvastatin) - NhathuocLP
Nasrix (Ezetimibe & Simvastatin) – NhathuocLP

Dược động học

Không có tương tác dược động học đáng kể khi phối hợp ezetimibe và simvastatin.

Viên kết hợp simvastatin và ezetimibe có dược động học tương tự với khi uống hai viên simvastatin và ezetimibe riêng lẻ.

Simvastatin

Hấp thu: Simvastatin chuyển hóa và thải trừ bước đầu qua gan mạnh, lượng chất chuyển hóa có hoạt tính p-hydroxyacid được tìm thấy trong tuần hoàn sau khi uống một liều simvastatin chiếm ít hơn 5% liều uống. Dược động học của chất ức chế hoạt động và tổng các chất ức chế trong huyết tương không bị ảnh hưởng khi uống simvastatin ngay trước bữa ăn ít chất béo.

Phân bố: Cả simvastatin và dạng P-hydroxyacid gắn đi protein huyết tương người (95%). Nồng độ đỉnh của các chất ức chế đạt được 1.3 – 2.4 giờ sau khi uống. Khi cho chuột uống simvastatin có gắn đồng vị phóng xa, dẫn xuất gắn đồng vị phóng xạ của simvastatin đi qua được hàng rào máu não.

Chuyển hóa: Simvastatin là một lacton không có hoạt tính, dễ thủy phân in vivo tạo thành dạng P-hydroxyacid, một chất ức chế mạnh HMG-Co A reductase. Sự thủy phân diễn ra chủ yếu ở gan; tốc độ thủy phân trong huyết tương người rất chậm.

Mức độ ức chế HMG-CoA reductase được dùng làm cơ sở để đánh giá dược động học chất chuyển hóa P-hydroxyacid (chất có hoạt tính ức chế) và của tổng các chất ức chế trong huyết tương sau khi uống simvastatin. Chất chuyển hóa chính hiện diện trong huyết tương người là P-hydroxyacid của simvastatin và các dẫn xuất 6’-hydroxy, 6′-hydroxymethyl và 6’-exomethylen của nó. Ở người simvastatin được hấp thu tốt và trải qua chuyển hóa và thải trừ bước đầu ở gan. Sự chuyển hóa và thải trừ ở gan phụ thuộc vào tốc độ dòng máu ở gan. Gan là nơi chuyển hóa và thải trừ chính, với phần lớn thải trừ của thuốc qua mật. Do đó lượng chất có hoạt tính trong tuần hoàn hệ thống thấp. Sau khi tiêm tinh mạch chất chuyển hóa p-hydroxy acid, thời gian bán thải trung bình là 1.9 giờ.

Thải trừ: Simvastatin được đưa vào tế bào gan theo cơ chế chủ động bằng chất vận chuyển OATP1B1. Ở người, sau khi uống 1 liều simvastatin đánh dấu l4C, 13% liều thải trừ qua nước tiểu và 60% qua phân trong 96 giờ. Lượng thuốc thải trừ qua phân bao gồm lượng thuấc được hấp thu thải trừ qua mật và lượng thuấc không được hấp thu. Sau khi tiêm tinh mạch chất chuyển hóa P-hydroxyacid, trung bình chỉ có khoảng 0,3% liều tiêm được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng chất ức chế.

Ezetimibe

Hấp thu: Sau khi uống, ezetimibe được hấp thu nhanh và kết hợp thành dạng ezetimibe-glucuronid. Nồng độ tối đa trong huyết tương (C„J đạt được khoảng 1 – 2 giờ sau khi uống đối với ezetimibe-glucuronid, và khoảng 4 – 12 giờ sau khi uống đối với ezetimibe. Thức ăn không có ảnh hưởng đến sinh khả dụng của ezetimibe.

Phân bố: Ezetimibe và ezetimibe-glucuronid gắn kết với protein huyết tương ở tỷ lệ 99.7% và 88 ~ 92%.

Chuyển hóa: Ezetimibe được chuyển hóa chủ yếu ở ruột non và gan thông qua sự kết hợp glucuronid. Ezetimibe và ezetimibe-glucuronid là các hợp chất chính được tìm thấy trong huyết tương, ezetimibe chiếm 10 – 20% và ezetimibe-glucuronid chiếm 80 – 90% tổng lượng thuốc trong huyết tương. Cả ezetimibe và ezetimibe-glucuronid được thải trừ chậm khỏi huyết tương do chu trình gan ruột. Thời gian bán hủy của ezetimibe và ezetimibe-glucuronid là khoảng 22 giờ.

Thải trừ: Sau khi uống ‘4C-ezetimibe (20mg), khoảng 93% ezetimibe hiện diện trong huyết tương. Sau 48 giờ, không còn tìm thấy thuốc hiện diện trong huyết tương. Khoảng 78% và 11% được tìm thấy trong phân và nước tiểu trong vòng 10 ngày.

Xem thêm:

Nguồn uy tín: https://nhathuoclp.com/thuoc-nasrix/

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here