Tính chất dược lý và Hình thức hoạt động của Briozcal

0
14

Thuốc Briozcal là sự kết hợp canxi và vitamin D là một chất bổ sung giúp tăng cường sức khỏe của xương, điều trị tình trạng thiếu canxi và bảo vệ chống lại bệnh loãng xương.

Hình thức hoạt động của Briozcal

Briozcal đều chứa hai hoạt chất là canxi cacbonat và Cholecalciferol hay còn được gọi là vitamin D3. Cơ chế hoạt động của Briozcal, như sau:

Calci Carbonat

Ion calci rất cần thiết cho nhiều quá trình sinh học: kích thích nơron thần kinh, giải phóng chất dẫn truyền thần kinh, co cơ, bảo toàn màng và làm đông máu. Ion calci còn giúp chức năng truyền tin thứ cấp cho hoạt động của nhiều hormon.

Trên hệ tim mạch: ion calci rất cần thiết cho kích thích và co bóp cơ tim cũng như cho sự dẫn truyền xung điện trên một số vùng của cơ tim, đặc biệt qua nút nhĩ thất.

Trên hệ thần kinh cơ: ion calci đóng vai trò quan trọng trong kích thích và co bóp cơ.

Cholecalciferol (Vitamin D3)

Cholecalciferol (Vitamin D3) có chức năng chính là duy trì nồng độ calci và phospho bình thường trong huyết tương bằng cách tăng hiệu quả hấp thu các chất khoáng từ khẩu phần ăn, ở ruột non, tăng huy động calci và phospho từ xương vào máu.

Briozcal (Calcium carbonate & Vitamin D3) - NhathuocLP
Briozcal (Calcium carbonate & Vitamin D3) – NhathuocLP

Tính chất dược lý của Briozcal

Dược lực học

Mã ATC: A 12 AX

Canxi và vitamin D là những yếu tố cơ bản trong quá trình tạo xương. Vitamin D giúp hỗ trợ sự hấp thu canxi.

Canxi: dạng uống được dùng điều trị tình trạng thiếu và hạ canxi huyết. Bổ sung canxi cũng là một phần của việc dự phòng cho cơ thể giảm nguy cơ loãng xương.

Thiếu canxi xảy ra khi chế độ ăn hàng ngày không cung cấp đủ canxi, thường xảy ra ở người già, phụ nữ trước và sau thời kỳ mãn kinh. Hạ canxi huyết xảy trong các trường hợp: suy cận giáp mãn, giả suy cận giáp, nhuyễn xương, còi xương, suy thận mãn, do dùng thuốc co giật hoặc khi thiếu vitamin D.

Đọc thêm  Tính chất dược lý và Hình thức hoạt động của Gingko biloba

Vitamin D3 (tên quốc tế colecalciferol) là một trong các chất của nhóm vitamin D, bao gồm các hợp chất sterol có cấu trúc tương tự nhau có hoat tính phòng ngừa và điều trị còi xương.

Vitamin D3 cùng với hormone tuyến cận giáp và calcitonin điều hòa nồng độ canxi trong huyết thanh. Chức năng chính của vitamin D là duy trì nồng độ canxi và phospho bình thường trong huyết tương bằng cách tăng hiệu quả hấp thu các chất khoáng từ khẩu phần ăn ở ruột non và tăng huy động canxi và phospho từ xương vào máu.

Thiếu hụt vitamin D xảy ra khi tiếp xúc với ánh sáng không đủ hoặc khi khẩu phần ăn thiếu hụt vitamin D hoặc ở những người có hội chứng kém hấp thu chất béo, gồm những người có bệnh về đường tiêu hóa. Một vài tình trạng của bệnh nhân suy thận có thể cũng ảnh hưởng tới sự chuyển hóa của vitamin D thành dạng hoạt động dẫn đến thiếu hụt vitamin D.

Loạn dưỡng xương do thận thường kết hợp với suy thận mạn tính và đặc trưng bởi giảm chuyển 25-OHD3 thành 1a, 25-(OH)2D3 (Calcitriol). Giữ phosphat gây giảm nồng độ canxi huyết tương, dẫn đến cường cận giáp thứ phát và về mặt bệnh học, có những tổn thương điển hình của cường cận giáp (viêm xương xơ hóa), của thiếu hụt vitamin D (nhuyễn xương), hoặc hỗn hợp cả hai trường hợp. Thiếu hụt vitamin D dẫn đến những triệu chứng đặc trưng bởi hạ canxi máu, hạ phosphat máu, khoáng hóa không đủ hoặc khử khoáng của xương, đau xương, gẫy xương, ở người lớn gọi là nhuyễn xương; ở trẻ em, có thể dẫn đến biến dạng xương đặc biệt là biến dạng xương dài, gọi là còi xương.

Còi xương phụ thuộc vitamin D là bệnh về gen thân lặn do bẩm sinh trong chuyển hóa vitamin D có liên quan đến giảm chuyển 25-OHD3 thành calcitriol.

Đọc thêm  Tính chất dược lý và Hình thức hoạt động của Selazn

Dược động học

Canxi

Sự hấp thu canxi ở ruột tỷ lệ nghịch với lượng canxi ăn vào, vì vậy khi chế độ ăn ít canxi sẽ dẫn đến tăng hấp thu bù, phần nào do tác động của vitamin D.

Sau khi uống, canxi carbonate chuyển thành canxi chloride do tác dụng của acid trong dạ dày. Hấp thu qua đường tiêu hóa khoảng 30% ở ruột non. 99% lượng canxi trong cơ thể tập trung trong cấu trúc của xương và răng. 1% còn lại nằm trong các dịch nội và ngoại bào. Khoảng 50% tổng lượng canxi trong máu ở dạng ion hóa hoạt động sinh lý và  khoảng 10% được kết hợp với muối citrate, phosphate hoặc các anion khác, phần 40% còn lại liên kết với protein, chủ yếu là albumin.

Sau khi dùng, lượng ion canxi được thải qua nước tiểu là hiệu số lượng được lọc tại cầu thận và lượng được tái hấp thu. Sự tái hấp thu ở ống thận rất có hiệu quả vì có đến hơn 98% lượng ion canxi lọc qua cầu thận được tái hấp thu vào máu. Hiệu quả tái hấp thu được điều hòa chính bởi hormon cận giáp và cũng bị ảnh hưởng bởi sự thanh lọc Na+, sự có mặt của các anion không bị tái hấp thu, và các chất lợi niệu. Thuốc lợi niệu tác động tại nhánh lên của quai Henle làm tăng canxi niệu. Ngược lại chỉ có thuốc lợi niệu thiazid là không gắn liền sự thải trừ Na+ và Ca2+, dẫn đến giảm canxi niệu. Hormon cận giáp luôn điều hòa nồng độ ion canxi huyết bằng tác động lên ống thận. Canxi niệu chỉ bị ảnh hưởng ít bởi chế độ ăn canxi ở người bình thường.

Canxi được bài tiết qua phân, nước tiểu và mồ hôi. Sự bài tiết thận phụ thuộc vào việc lọc và tái hấp thu canxi ở ống thận. Hậu quả tái hấp thu chịu ảnh hưởng của kích thích tố tuyến cận giáp, N⁺ và các chất lợi niệu.

Trong thời kỳ co con bú, một lượng canxi được thải vào sữa mẹ.

Đọc thêm  Tính chất dược lý và Hình thức hoạt động của Zinc gluconate

Vitamin D

Hấp thụ: Vitamin D3 được hấp thu ở ruột non. Mật cần thiết cho hấp thu vitamin D ở ruột. Vì vitamin D tan trong lipid nên được tập trung trong vi thể dưỡng chấp, và được hấp thu theo hệ bạch huyết. Colecalciferol và chất chuyển hóa của nó lưu thông trong máu liên kết với một globulin đặc hiệu. Colecalciferol được chuyển đổi trong gan bằng hydroxylation đến dạng hoạt hóa 25-hydroxycolecalciferol. Thực tế, 25-hydroxycolecalciferol có ái lực cao với protein hơn hợp chất mẹ. Sau đó nó sẽ được chuyển đổi ở thận thành 1,25 hydroxycolecalciferol. 1,25 hydroxycolecalciferol là chất chuyển hóa có tác dụng tăng hấp thu canxi. Vitamin D không chuyển hóa được lưu giữ trong mô mỡ và mô cơ.

Thời gian bán hủy của vitamin D 19-25 giờ.

Vitamin D và các chất chuyển hóa của nó được bài xuất chủ yếu qua mật và phân, chỉ có một lượng nhỏ xuất hiện trong nước tiểu. Một vài loại vitamin D có thể được tiết vào sữa.

Xem thêm:

Nguồn uy tín: https://nhathuoclp.com/thuoc-briozcal/

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here